Trang chủ | Giới thiệu | Thống kê | RSS | Liên hệ

HOA SEN MÙA GIÓ CHƯỚNG

….Vào một ngày trăng tròn sáng, với tiết mùa Đông của năm Nhâm Thìn. Sau những ngày chúng con được đủ duyên lành cùng Thầy   đến vùng biển Long Hải, thầy trò cùng nhau tận hưởng tuần trà đạo. Đây là điều mà bấy lâu nay chúng con hằng mơ ước.

      Ánh trăng tỏa sáng, gió biển rì rào. Chúng con ai cũng mừng vui hớn hở, vây quanh bên Thầy. Không khí ấm áp lan tỏa, nụ cười từ bi hiền hậu của Người  khiến chúng con cảm thấy Thầy không những là một người Thầy mà còn là một người cha đang thương yêu, che chở và đùm bọc cho đàn con!

       Sau tuần trà đạo, chúng con không bỏ lỡ cơ hội hiếm có, tranh thủ cầu xin
Thầy kể về cuộc đời của Người, thế là Thầy nói:’’ cuộc đời của Thầy bình thường thôi chứ có gì đâu mà kể!”

      Nhưng chúng con biết '' bình thường '' của Thầy nếu như một người thiếu ý chí và nghị lực thì không thể nào đứng vững được, chứ nói chi đến chuyện hoằng  hóa đạo pháp như ngày hôm nay!      
          
   …Vậy là giọng trầm ấm ôn hòa  của Thầy bắt đầu… Chúng con im   phăng phắt, say sưa theo từng câu từng lời mộc mạc của Người mà như  đang nghe truyện cổ tích.
   … Kính bạch Thầy, chúng con may mắn được làm đệ tử của Thầy  chúng con cầu xin Người từ bihoan hỉ cho chúng con được ghi lại phần nào công hạnh của Người.” Thầy ví như một đóa sen vượt qua gió mưa giông bão nhưng vẫn tỏa ngát hương thơm”, Thầy là tấm gương cao cả cho hàng hậu học chúng con  sáng soi trên đường chánh đạo


 

 

Hoa Sen Mùa Gió Chướng

Thầy pháp hiệu Thích CHÍ THIỆN  đương kim trụ trì chùa Đức Hòa, thuộc khu phố Nội Hóa 1, phường Bình An,  thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương. Thế danh LÊ VĂN LÂN, pháp danh thích THANH NGÂN sinh ngày 01-01-1951
tại xã Bà Nhã huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh. Thầy là con thứ tám trong một gia đình gồm chín anh chị em, sáu trai ba gái  . Thầy là đệ tử của cố Hòa thượng
Thượng Chân Hạ LÝ , nguyên viện chủ chùa ĐỨC HÒA.

... Thầy thường  nghe bà cụ thân sinh kể lại rằng:” ngay từ khi mang thai, đa phần bà chỉ dùng trái cây, cho đến ngày khai hoa nở nhụy”. Đây cũng là duyên lành của chú bé từ nhiều đời. Thầy là một chú bé ốm yếu được sinh ra trong rừng giữa thời loạn lạc, điều kiện rất  thiếu thốn, cực khổ, Vừa nuôi con vừa tảo tần. Có lần mẹ chú vừa bước ra ngoài, chú bé nằm lại một mình, chẳng may chú lăn rơi xuống đất,  lại trúng vào bếp sưởi. Khi nghe tiếng khóc, bà mẹ vội chạy vào bế chú ra, rồi dùng nước mắm thoa khắp người, thời ấy trị bỏng chỉ có vậy! Năm 1953, Pháp liên tục thả bom, cha chú bị trọng thương, gia đình chuyển về Cầu Ông Lãnh sinh sống ở dưới ghe.Nhưng cuộc sống không bình yên, cứ phải luôn trốn tránh, nên đến năm 1955 gia đình lại tiếp tục chuyển về Dầu Tiếng, cha làm thợ mộc để nuôi sống gia đình, mẹ thì buôn bán. Lúc nầy chú bé được 4 tuổi, mới biết đi, biết nói. Năm 1960 chú được bố mẹ cho đi học trường làng, đến năm 12 tuổi, vừa đi học vừa giúp mẹ buôn bán hàng ở chợ.
Chợ cách nhà khoảng chừng1 cây số và chỉ có một con đường mà thôi. Có lần mẹ bán hàng xong, bảo chú mang gánh hàng về nhà trước, còn mẹ bận đi chút việc, nhưng khổ thay: không có mẹ, chú chẳng biết đường nào mà về. Lại nữa, có một hôm cha sai chú lên chợ mua bánh bao, chú đi quanh quẩn tìm mãi rồi tay không trở về. Khi cha hỏi  chú trả lời rằng : '' Con vào tiệm tạp hóa hỏi mua  mà người ta không có bán !'' Thế là cả nhà có một trận cười vỡ bụng! Chú bé hiền lành và rất thật thà nên ai thấy cũng thương, mọi người bảo rằng : ''kệ, lù khù có ông  Cù độ mạng '' chú bé nghe cũng vui thích vậy thôi, đến sau này, vào chùa chú mới hiểu hết được ý  nghĩa của câu nói đó.
 

       Lúc bấy giờ sư ông viện chủ chùa ĐỨC HÒA có xây dựng chùa LIÊN TRÌ ở gần nhà, mẹ của chú dắt 4 người con đến quy y tam bảo, và chú được Sư  ông đặt cho pháp danh là  THANH NGÂN. Ban ngày  bán hàng, tối đến bà dạy các con tụng kinh niệm Phật, từ đó chú  bắt đầu biết ăn chay mỗi tháng 10 ngày,   và đọc chú Đại Bi, chú Vãn Sanh ...vv. Chú THANH NGÂN chắc có duyên lành từ trước nên sẵn lòng từ,   chú biết quí và thương yêu loài vật. Có 1 bữa nọ bạn bè rủ nhau bắt sò ốc dưới sông , chú cũng vì ham vui chịu dang nắng cả ngày để bắt đem về nhà , nhưng không dám ăn mà lại ngâm vào chậu nước cho nó sống. Vào ngày 14 chú thấy phật tử chùa LIÊN TRÌ mua cá đem xuống sông để phóng sanh, thấy vậy chú cũng vui mừng hớn hở bưng thau sò ốc mà chú đã bắt hôm trước theo nhóm Phật tử xuống sông để thả. Thế là kể từ đó chú không xuống sông bắt sò ốc nữa.

                                                                                                                                                                    
         Năm 1965 chú được 14 tuổi , đang học lớp 6 trường làng, thời điểm nầy đất nước đang bị chiến tranh loạn lạc, dân chúng Dầu Tiếng cũng không tránh khỏi hoàn cảnh ấy, có nhiều gia đình phải di tản đi nơi khác.Gia đình chú cũng bị di tản về Bình Dương, ở nhà người chị thứ tư.
     Thấy cảnh đời đau khổ, bà mẹ muốn hướng con mình theo Phật pháp,vào 1 ngày nọ, bà đưa cho chú quyển kinh Vu Lan báo hiếu và nói: ''Con hãy đọc đi, khi đọc xong con suy nghĩ muốn đi tu hay về nhà học tiếp''. Vì có hạt giống từ bi và duyên lành nhiều đời, sau khi đọc xong chú ngậm ngùi rơi lệ nghĩ đến công ơn cha mẹ quá cao dầy, chỉ   có con đường tu hành mới đền đáp được, nên chú nói với mẹ rằng:”mẹ ơi con muốn đi tu” Đây cũng là nhân duyên đầu tiên dẫn đến việc phát tâm tu hành của chú !
          Mọi việc như đã được an bày, mẹ dắt chú đến chùa ĐỨC HÒA làm  công quả,chú hiền lành siêng năng nên được thầy thương bạn mến. Lúc  nầy Sư ông đang xây dựng tượng Quan Âm, cao 18m. Chú làm phụ hồ để kiếm phước. Một hôm , mẹ xin sư ông dắt chú về thăm nhà ở Dầu Tiếng,chẳng may tàu bị chìm chết khoảng 60-70 người, chỉ còn chừng khoảng 40 người sống sót, trong đó có 5 mẹ con của chú, riêng chú bị thương ở chân. được đưa về bệnh viện Bình Dương điều trị 21 ngày , sau khi lành bệnh , chú được mẹ đưa về chùa ĐỨC HÒA công quả tiếp.

           Gần gũi Tam bảo và đầy đủ duyên lành, chú bé khờ khạo, ngây thơ ốm yếu được xuất gia vào ngày 19-02-năm Bính Ngọ(1966). Đây cũng là ngày sư ông làm lễ khánh thành tượng Quan Âm, chú được Sư ông đặt pháp hiệu là Thích CHÍ THIỆN, năm đó chú tròn 15 tuổi, thế là chú THANH NGÂN được mặc bộ đồ nâu và trên đầu để 1 chỏm, đã trở thành chú tiểu trong chốn thiền môn.Từ đó chú CHÍ THIỆN siêng năng công quả và tinh tấn tu tập. Năm 1968, Sư ông khởi công đại trùng tu ngôi chánh điện , lập tăng xá, nhà khách và những nơi cần thiết. Trong thời
kỳ chiến tranh loạn lạc mà xây dựng lên 1 ngôi chùa thật là không đơn giản chút nào, công  trình nầy được xây dựng đến năm 1974 mới hoàn thành.

Nhắc lại năm 1968 chú tiểu được thọ giới Sa di, thọ xong chú đốt một lóng tay để cúng dường đức Phật .Trong thời gian đó trong chùa có tất cả là 6 chú , 5 chú lần lượt ra đi chỉ còn lại 1 mình, Chú vừa làm thị giả cho Sư ông, vừa gánh vác tất cả mọi việc trong chùa, thỉnh thoảng mẹ chú đến thăm thấy chú làm lụng cực khổ, áo quần không tươm tất, trong lòng không khỏi quặn đau! Nhưng không vì lẽ đó mà bà buồn lòng, hiểu được Phật pháp nên bà luôn an ủi  động viên chú:” hãy cố gắng tu tập cho tốt nhé, con trai của mẹ!”. Nhờ siêng năng tu tập và được sự rèn luyện của Sư ông, nên chú đã từng bước trưởng thành. Sự cực khổ đã qua, năm 1974 việc trùng tu Chánh điện đã hoàn thành .

Nhưng cuộc đời của chú Sa di không êm đềm bình lặng, tưởng chừng qua lúc cực khổ thì được ở yên tu học, không ngờ chú lại gặp sóng gió  phải ra đi, đến chùa VĨNH NGHIÊM  để nhập chúng. May mắn thay , được  Hòa thượng trụ trì thương yêu! Vào ngày 20-01- 1975, Hòa thượng cho thọ Đại giới, thế là chú Sa di ngày nào đã trở thành vị Tỳ kheo! Thọ giới xong , lúc nào thầy cũng theo quy cũ thiền môn, siêng năng tu tập.

    Năm 1977 đến năm 1980 thử thách không ngừng, thầy phải chuyển hộ khẩu về chùa ĐỨC HÒA, rồi về lại chùa LIÊN TRÌ để gần gũi giúp mẹ tuổi già bệnh hoạn. Nhờ chuyên tâm trì niệm A DI ĐÀ, mẹ của Thầy qua đời trong an nhiên tự tại.
   Ngày mùng 1-1- năm Tân Dậu(1981) vào lúc 1h20, sau giao thừa, mẹ của Thầy đã trút hơi thở cuối cùng, để lại nhiều điềm tốt như: biết trước ngày đi, dặn dò con cháu kỹ lưỡng, đi nhẹ nhàng, cho đến sáng hôm sau, gương  mặt vẵn hồng hào đầy đặn, thân hình mềm mại khác thường, giờ hạ quan có  mưa lát đát..v.v...
Sau khi qua 1  trăm ngày của thân mẫu , thầy về lại chùa ĐỨC HÒA tiếp tục tu học. Lúc nầy thầy rất tinh tấn, vừa làm thị giả cho Sư ông , vừa chuyên tâm trì chú Đại Bi. Thời gian được khoảng 6 tháng, một buổi chiều, tự nhiên thầy ngửi được mùi hương lạ chưa từng có, đây là do công năng trì chú Đại bi mà được.

Trong kinh có nói:”Phật cao nhứt xích, ma cao nhứt trượng” , vì chưa nắm vững được pháp tu nên phải trãi qua nhiều giai đoạn thử thách, tinh thần dường như bất định. Nhưng Phật pháp luôn huyền bí nhiệm mầu, trong thời điểm bất an đó, bổng dưng  có một vị thiền sư độ khoảng ngoài ba mươi, đến xin Sư ông cho ở lại ít hôm để tu tập và dưỡng bệnh. Thế là Thầy và vị Thiền sư ấy có dịp lân la trò chuyện. Ít hôm sau, trong lúc chuyện vãn, thiền sư ấy nói với thầy rằng :
 '' Người tu nếu bị lạc đường, nặng thì sẽ chết, nhẹ hơn bị điên, hoặc có thể  vướng  vào những tai họa, còn phước lắm mới dừng lại một chỗ để định hướng vươn lên tìm ra đường chánh đạo mà tu tiến''. Rồi vị ấy tặng cho Thầy hai bài kệ sau :
        
1.       THIÊN MA
                          Chín phẩm Thần Tiên nể mặt ta
                          Thích ca dầu trọng chẳng chung hòa 
                          Cung hư ngọc hoác hằng lui gót  
                          Đón nẻo Tây phương thử chánh tà.
 2.  Bài kệ của hành giả      
                          Vàng ròng gặp lửa vàng cao giá
                          Quả thật đạo cao há sợ ma
                          Đạo cho ma khảo tường cao hạ
                          Thập quả đạo cao ma sợ ta.

           -Nghe 2 bài kệ xong,  thiết nghĩ lại phù hợp với mọi hoàn cảnh của mình. Thầy bừng tỉnh và nghĩ rằng vị Tăng ấy không biết gốc tích từ đâu mà đến đây, phải chăng đó là Bồ Tát Quan Âm thấy Thầy bị nạn mà thị hiện để chỉ đường dẫn lối Thầy  tiếp bước trên con đường chánh đạo. Sau khoảng 1 tuần vị Thiền Sư ấy từ giã ra đi, Thầy chấn chỉnh tinh thần quyết  tiến tu tập, nhưng hoàn cảnh khó khăn vẫn đến! Sư ông vẫn khắc nghiệt với Thầy và tìm đủ mọi cách để làm cho Thầy không thể tồn tại nơi nầy được nữa. Nhưng Thầy vẫn kiên trì và tìm nơi học Luật Sa Di và Tỳ kheo. Năm 1984 đến năm 1987 thầy cấm túc an cư tại các điểm: chùa Từ Quang, chùa Pháp Trí, chùa Huê Nghiêm và chùa Kỳ Quang 2. Tưởng chừng mọi việc như đã thuận tiện, không ngờ đầu năm 1988 lại tiếp diễn một thời chao đảo nữa, “phải xưa nghiệp chướng nặng dày, nên nay trời bắt đem đày nhân gian”, sức người chịu đựng có hạn. Lúc bấy giờ, Thầy rất khổ tâm và buồn bã Thầy mới lên bạch sư ông “kể từ nay con không có ăn cơm của sư ông nữa” rồi hằng ngày ra vườn hái 10 đọt rau lan hoặc rau cải mọc ở vườn đem vào nấu ăn cho đỡ dạ sống qua ngày, ấy thế mà ăn rau trải qua được 7 ngày.

Với ý chí quyết tâm hướng đến Phật Pháp và với sự khổ hạnh tu tập mà lòng không thối chuyển thật là  huyền diệu, đấng từ bi đã mang Hộ Pháp đến cho Thầy. Bà Sáu một Phật Tử quen biết từ Long Thành nóng lòng tìm thăm Thầy, sau khi biết được sự việc bà mua gạo, mì cho Thầy và ở chùa vài hôm. Cảnh này chẳng khác nào nàng SuDaTa dâng bát sữa cho Đức Phật. Sau đó bà thấy việc quá nghiêm trọng bà gợi ý khuyên Thầy nên về chùa Thường Chiếu để tu học, tình trạng ở đây không có lợi ích gì! Đắn đo cân nhắc Thầy quyết định ra đi. chuyên tâm tu học không ngờ nghiệt ngã tột cùng lại đến ! Khi tu học ở Thường Chiếu Thầy vẫn xin sư ông và chính quyền được tạm vắng 3 tháng 1 lần. Nhưng đến lần cuối năm Thầy bàng hoàng khi nghe sư ông cắt tên Thầy trong hộ khẩu, sự việc này khiến Thầy hoang mang hụt hẫng. Quá  buồn bã và lo ngại về nơi ăn chốn ở, hoàn cảnh này khó mà thực hiện được hoài bão tu học , sao cứ luôn bị chướng ngại và thử thách! Lại một lần nữa, cơ duyên lại đến! Vào một buổi chiều mùng 1 tháng 11 âm lịch (1988) Thầy qua chùa Bình Sơn cách chùa Đức Hòa khoảng hơn 1 cây số để thăm Thầy Hiếu Hòa Đang trụ trì cũng là bạn đồng tu. Sau khi thăm hỏi và tỏ nỗi lòng, Thầy Hiếu Hòa vui mừng nói: “hai ngày nữa tôi giao chùa Bình Sơn cho sư cô rồi nhưng tôi không yên tâm, gặp Thầy đây tôi mừng quá, mời Thầy ở lại trụ trì chùa này tôi ra đi được yên lòng hơn”. Lúc đó trong lòng Thầy nghĩ rằng : “sư phụ tìm cách đuổi mình đi, cùng lúc Thầy Hiếu Hòa ở chùa Bình Sơn lại kêu Thầy về,  đây có lẽ là nhân duyên được ơn trên sắp đặt, thế rồi Thầy nhận lời. Sau đó được ủy ban  nhân dân xã Bình An và Thầy HIẾU HÒA ký giao chùa Bình Sơn cho Thầy  vào ngày 12/12/1988.

- Về trụ trì chùa Bình Sơn Thầy mời bà Sáu và một số Phật Tử về Hộ Pháp. Thời gian đầu rất khó khăn về kinh tế, phải tỉa đậu trồng khoai mới có thu nhập chi dùng trong chùa, sau này mới tập dần đi cúng cầu an, cầu siêu. Với sự nhiệt tình của Thầy đã thu hút một số tín đồ, lúc đó đời sống mới tạm ổn định, thế là Thầy mới tu bổ và xây dựng  một số cần thiết trong chùa và xây hàng rào xung quanh. Nhân duyên hội ngộ, năm 2001 sư ông lại bị tai biến nên gọi Thầy trở về chùa Đức Hòa để hỗ trợ và sư ông hứa sẽ giao cho Thầy được kế thế. Thầy nghĩ rằng sư ông đối với Thầy không có một chút tình thương và đã nhiều phen khảo  đảo làm cho Thầy điêu đứng khổ sở, đó là do nghiệp chướng nhiều  đời còn lại, nay sư ông đã hỷ xã bỏ tất cả chuyện quá khứ thì mình sao ngoảnh mặt làm ngơ cho được. Dù sao 1 ngày  cũng là Thầy“có công giáo huấn  hôm mai, chẳng nhiều thì ít vì người mới nên, đừng lòng được cá bỏ nơm, giáo đa thành oán sao nên đạo tình”. Thầy liền hoan hỷ nhận lời trở về chăm sóc cho Sư Ông, đồng thời bắt tay vào việc tu sửa và nâng cấp toàn bộ các công trình hạng mục.

Nói đến sự mầu nhiệm của Phật Pháp, năm 2004 Thầy cùng 3 vị Trụ Trì đi chiêm bái Xá Lợi tại tịnh xá Ngọc Đạt, duy chỉ có Thầy chiêm ngưỡng thấy được hào quang ngũ sắc phóng ra bao phủ xung quanh Xá Lợi, thật hạnh phúc và an lạc vô biên. Vì trong Kinh nói: “nếu ai chiêm bái Xá Lợi mà thấy được hào quang và tướng tốt khác thì người đó khi  Phật ra đời đã từng được thấy Phật”, niềm hỷ lạc đó làm tâm bồ đề càng thêm kiên cố, Thầy luôn vững tâm thừa hành Phật sự. Đến năm 2005, Thầy mới được chính thức bổ nhiệm Trụ Trì Chùa Đức Hòa.

 

http://duchoatu.net/uploads/news/2013_11/tt-thich-chi-thien.png Thượng Tọa Thích Chí Thiện - Trụ trì Chùa Đức Hòa
 
-       Ủy Viên Ban Tài Chánh Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
 
-       Ủy Viên Ban Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam – Tỉnh Bình Dương.
 
-       Phó Ban Hoằng Pháp Giáo Hội Phật Giáo Tỉnh Bình Dương.
 
-       Phó Ban Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thị xã Dĩ An.
Trụ trì Thích Chí Thiện với công tác phật sự
- Sau khi bổ nhiệm đầu năm 2006 Thầy xây dựng tượng Phật Niết Bàn dài 23m, đồng thời mở khóa tu Phật Thất cho Phật Tử các nơi về tu tập đến nay đã được 82 khóa. Năm 2007 Thầy khởi công xây dựng tượng Phật A Di Đà cao 25m50, đến tháng11 xây dựng lên được khoảng 10m, ngày mùng 7/11 âl Thầy tổ chức lễ Hội Hoa Đăng để cúng dường ngày vía đức Phật A Di Đà. Lúc đó buổi chiều, khi mặt trời đã xuống, sư ông kêu người đẩy xe lăn ra sân Di Đà cho sư ông chiêm ngưỡng, thấy đệ tử của mình tổ chức hoành tráng trang nghiêm trong lòng hoan hỷ và nghĩ rằng việc kế thừa sư ông đã chọn đúng người. Ngày 14/11 âm lịch (2007) vào buổi sáng mát trời sư ông đang ở bệnh viện cho người đẩy xe ra sân để hóng nắng, thế rồi sư ông ngồi hoan hỷ nhìn  hướng lên mà thâu thần viên tịch, hưởng thọ 85 tuổi, 65 hạ lạp. Thật ấn tượng đối với môn đồ pháp quyến chúng con, tang lễ Sư ông được long trọng diễn ra 5 ngày để nhất tâm cầu nguyện, trước khi nhập bảo tháp 3 tiếng đồng hồ Thầy đã đến kim quan sư ông chiêm ngưỡng và thật lạ lùng thay sắc mặt sư ông đày đặn trở lại hồng hào 2 môi đỏ như son, trạc người độ 60 tuổi, tướng trạng này đã nói lên sự tu tập công đức của sư ông đã thành công viên mãn, thật là một điều phước báu cho hàng đệ tử chúng con! Tháng 4 năm 2008 tượng Phật A Di Đà đã được hoàn mãn, xung quanh cảnh cực lạc cũng đã được hoàn thành để Phật Tử gần xa có nơi chiêm bái và nhớ đến cảnh cực lạc Tây Phương mà hướng về.
 
- Năm 2009 để Phật Tử có đủ điều kiện tu học và sinh hoạt Thầy đã xây dựng giảng đường 1000 mét vuông, sau 8 tháng thi công hoàn thành đã được đưa vào sinh hoạt cho đến nay. Cuối năm 2009 tất cả Phật Sự đều viên mãn. Hiện nay chùa có 50 Tăng chúng về nương tu học, đạo tràng tu thường xuyên khoảng 30 Phật Tử và công quả hơn 10 người. Phật Tử về tu Phật Thất mỗi tháng con số tăng khoảng hơn 200 người. Tuy vậy, Phật Sự không dừng tại đây để Phật Tử gần xa có điều kiện tu tập, Thầy xây dựng chùa Thanh Hòa, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước và Thầy đã cắt đệ tử về quản lý hướng dẫn cho Phật Tử tu học. Năm 2012 lo thủ tục giấy tờ để xây dựng Tu Viện Thiện Hòa ở Đơn Dương thành phố Đà Lạt và Thầy còn dự án xây vài ngôi chùa ở một số nơi khác nữa v.v…
Thầy đứng vững đến hôm nay và những thành quả đạt được là do sự dạy dỗ rèn luyện của sư ông. Công đức của Ngài, Thầy không thể nào quên được.
Thật đúng với câu của các vị Thiền Sư dạy :

 
“ Vàng ròng gặp lửa vàng cao giá.
Thật quả đạo cao, há sợ ma.
Đạo cho ma khảo tường cao hạ.
Thật quả đạo cao ma sợ ta”.

-Giọng  nói của Thầy trầm ấm với tâm nguyện “Hoằng truyền chánh pháp, Lợi ích chúng sanh”, Thầy tu tập và thực hiện Phật Sự không ngừng nghĩ. Với những thành tựu này hàng đệ tử chúng con nguyện giữ gìn , phát triển và luôn luôn tinh tấn tu học, chúng con xin hứa nguyện rằng : “huynh đệ sống trong pháp lục hòa cộng trụ, lấy lòng từ bi làm nền tảng và chúng con đem những lời Thầy bày tỏ hôm nay để làm hành trang tiếp bước trên con đường giác  ngộ giải thoát.
- Ánh trăng vằng vặt  mờ dần lúc nào cũng không hay biết, nước mắt của chúng con giờ đây mặn hơn nước biển. Những đắng cay gian lao cực khổ mà Thầy đã trải qua để chúng con có được ngày hôm nay, với lại tuổi của Thầy đã quá lục tuần sức khỏe không còn được như xưa, thế mà ngày nào Thầy cũng đi làm Phật Sự để có được thêm nguồn thu đem về trang trải trong chùa và luôn luôn sách tấn chúng con trong việc tu tập, vậy mà chúng con có lúc lại vô tâm! Thật tội lỗi khi chúng con thản nhiên cơm ngày hai bữa, hưởng thụ những gì mà Thầy đã  đem lại cho chúng con bằng mồ hôi công sức. Thật đúng với câu :

“Sương khuya nắng sớm mưa chiều.
Biết bao khổ nhọc đã nhiều vì ai?”.

 Từ nay chúng con thành tâm sám hối, chí tâm tinh tấn tu học để không nhọc lòng Thầy nhắc nhở, duy trì và hoằng dương chánh pháp, để đền đáp lại phần nào công ơn trời biển mà Thầy  Tổ đã hy sinh lo lắng cho chúng con.

“Lên non mới biết non cao.
Độ người mới biết  công lao của Thầy.
Ơn giáo dưỡng một đời nên huệ mạng.
Nghĩa ơn sư muôn kiếp chẳng hề phai”.

 Hàng đệ tử chúng con kính ghi lại những tư liệu này thay thế cho tiểu sử. Kính mong Thầy từ bi hoan hỷ chứng minh cho.


Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát.
 
                               Ban Văn Hóa Chùa Đức Hòa kính soạn
                                  Mùa xuân năm Quý Tỵ
                               Phật Lịch: 2557_Dương Lịch: 2013

 
This is an example of a HTML caption with a link.
 Xem bản: Desktop | Mobile